Tất cả Tranh Mandala

Hiển thị từ 15 đến 30 trong 49 kết quả


 

TRANH MANDALA

 

Cùng xem quá trình vẽ tranh mandala.

1. Tranh Mandala là gì?

 

tranh mandala vẽ tay

 

     Tranh Mandala (Mạn đà la) ( viết tắt MĐL)là một hình vẽ biểu thị vũ trụ trong cái nhìn của một bậc giác ngộ. Trong tiếng Sanskrit, MĐL có nghĩa là một trung tâm (la) đã được tách riêng ra hay được trang điểm (mand). Có thể coi là một hình vũ trụ thu nhỏ. "Mandala" dịch nghĩa theo chữ Hán là "luân viên cụ túc", nghĩa là vòng tròn đầy đủ. Theo ý nghĩa thực tiễn thì mạn đà la là đàn tràng để hành giả bày các lễ vật hay pháp khí cho nghi thức hành lễ, cầu nguyện, tu luyện...

     Tranh Mandala có thể đơn giản hoặc phức tạp, và có thể được sơn, khắc hoặc tạo ra trong hầu hết các hình thức nghệ thuật. Có thể lập luận rằng một chiếc bánh pizza là một mandala hiện đại, mặc dù nó hiếm khi được coi là một vật đáng được tôn trọng. Một số ngôi đền Phật giáo được xây dựng trong một hình dạng mạn-đà-la lớn, như đền cổ Phật giáo nổi tiếng Borobudur.

 

2. Nguồn gốc ý tưởng Mandala

 

 

     Mandala (Mạn-đà-la) được lấy ý tưởng từ ngọn núi lửa Meru của Ấn Độ. Một ngọn núi linh thiêng được gọi là trung tâm và được bao bọc bởi bảy ngọn núi nhỏ trong một vòng tròn đồng tâm. Có ba cõi bên trong là: Arupyadhatu – Vô sắc giới, Rupudhatu – Sắc giới, và Kamadhatu – Dục giới.

     Man-da-la xuất hiện ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 5 TCN và du nhập vào Tây tạng vào thế kỷ thứ 7 SCN. Tài liệu tham khảo đầu tiên về MĐL được làm từ cát ở Tây Tạng đến từ cuốn “Biên Niên Sử Xanh”, một lịch sử cổ xưa của Phật giáo Tây Tạng được viết bởi Go Lotsawa Zhonnu Pel vào thế kỷ 14 SCN, được gọi là “Kho báu của cuộc sống”.

     Bách khoa toàn thư về sinh học của Tây Tạng và dãy Himalaya. Ông bắt đầu viết tác phẩm này cho các học trò của mình ở tuổi 84. Man-da-la ban đầu thiên về tâm linh hơn là hữu hình. Đó là một cách để truy cập hoặc mở khóa sức mạnh của vũ trụ trong quá trình thực hành thiền định, và có các tài liệu tham khảo cho các bậc thầy Phật giáo chuyển mình thành thần chú và sau đó phân tán vào vũ trụ.

 

3. Ý Nghĩa Của Mandala

 

tranh mandala là gì

Tranh man-da-la có rất nhiều ý nghĩa đối với người tu tập Mật Tông

 

     Trong nhiều truyền thống nơi Mạn đà la được sử dụng, có một số nghi thức khác nhau, nơi mà người học viên thiết lập kết nối tâm linh với các biểu tượng hay vị thần cốt lõi của man-da-la bằng cách di chuyển từ bên ngoài về phía trung tâm. Một khi ở trong trung tâm, học viên có thể nhận thức được bản chất thật của sự tồn tại và gần gũi hơn với mục tiêu giác ngộ hay sự hiểu biết hoàn hảo.

     Trường phái Phật Kim Cương Thừa có một bộ các nghi lễ rất phức tạp, để giúp các hành giả đạt được giác ngộ. Họ sử dụng rất nhiều các nguyên tắc, các nghi lễ, niệm các thần chú bí mật và vẽ man-da-la. Trường phái này tin rằng, để đạt được giác ngộ bằng các phương pháp truyền thống đòi hỏi một thời gian rất dài, thậm chí là qua nhiều kiếp, trong khi các phương pháp được sử dụng trong Kim Cương Thừa có thể mang lại kết quả tương tự chỉ trong một đời duy nhất.

     Man-da-la được thiết kế để hướng dẫn những ai mong muốn giác ngộ bằng cách thanh lọc và chữa trị tâm trí, biến đổi một tâm trí bình thường sang một tâm giác ngộ. Khi hoàn thành và phân tán, pha trộn với nước và đưa trở lại cát bụi, những phước lành và vẻ đẹp của man-da-la có thể được chia sẻ với tất cả chúng sinh.

     Bằng cách này, nó thực sự là phép ẩn dụ cho cuộc sống con người trong đó, mỗi con người phát triển từ một đứa trẻ phụ thuộc vào một hệ thống cấu trúc, ký ức, kinh nghiệm và các mối quan hệ phức tạp. Nhưng khi chết, mọi thứ đều tan rã và trở lại với trái đất. Nói cách khác, không có gì tồn tại mãi mãi, mọi sự vật hiện thượng chỉ thay đổi theo nguyên lý hoạt động của vũ trụ.

 

4. Công dụng của tranh man-da-la:

 

công dụng tranh mandala

Công dụng của tranh mandala

 

     Được sử dụng để bắt đầu các nghi thức bí truyền

      Là những công cụ thiền giúp tập trung tâm trí

     Được tạo ra và tiêu hủy để đại diện cho sự vô thường

     Được bán để truyền bá nhận thức về Phật giáo và triết học Phật giáo

     Một số Phật tử coi mô hình lý tưởng này là “Bồ tát”. Bồ tát là những chúng sanh, giống như chư Phật, đạt được giác ngộ, nhưng lại chọn tái sinh vào cõi trần, không đi vào một vùng đất thuần tịnh thay thế, cũng không biến mất vào hạnh phúc giác ngộ. Khi chúng ta truyền bá kiến ​​thức về Pháp, giáo lý của Phật giáo, chúng ta được gọi là “xoay bánh xe” của Pháp. Man-da-la giữ con mắt và nắm bắt trái tim của người xem, xoay bánh xe và mời tất cả chúng sinh vào những không gian độc đáo, linh thiêng này.

     Theo kinh điển Phật giáo, mạn-đà-la được tạo ra nhằm mục đích truyền năng lượng tích cực đến môi trường và cho những người xem chúng. Chúng được cho là có khả năng thanh lọc và chữa bệnh.

5. Sáng tạo một Mandala như thế nào?

 

công dụng tranh mandala

Một bức tranh Mandala hoàn chỉnh có nghĩa là bảo trì sự tinh túy.

 

     Đầu tiên lấy trung tâm là một dấu chấm. Nó là một biểu tượng rõ ràng về sự vô hạn. Nó có nghĩa là chủng tử - một hạt giống, là điểm bắt đầu quan trọng nhất. Tâm điểm này thu hút tất cả năng lượng vũ trụ bên ngoài, và trong vai trò là lực hút, năng lượng của người tín tâm được khai mở và cũng được hút vào trong đó. Vì vậy, Man-da-la là biểu trưng của tất cả không gian vũ trụ bên ngoài và bên trong. Mục đích là loại bỏ sự ngăn cách giữa vật thể và chủ thể. Trong quá trình này, tranh được coi là một Bản tôn. Trong việc kiến lập, một đường thẳng sẽ xuất hiện từ tâm điểm và những đường thẳng khác sẽ được vẽ cho đến khi chúng giao nhau tạo ra những hình tam giác. Vòng tròn được vẽ xung quanh biểu trưng cho ý thức đầy xung lực khởi đầu. Hình vuông bên ngoài biểu trưng cho thế giới vật chất hướng ra bốn phương, được biểu trưng bởi bốn cổng, khu vực trung tâm là nơi an trụ của Bản tôn. Trung tâm tranh được coi là sự tinh túy, và đường tròn là sự bảo trì. Bởi vậy, một bức tranh mđl hoàn chỉnh có nghĩa là bảo trì sự tinh túy.

6. Kiến lập Mandala:

 

kiến lập tranh mandala

Phải trải qua tu tập cực khổ mới kiến lập được tranh Mandala

 

     Trước khi một vị Tăng được phép đảm nhận công việc kiến lập tranh, vị sư đó phải trải qua một thời gian dài được đào tạo kỹ năng về nghệ thuật và khả năng ghi nhớ, học cách vẽ tất cả các loại biểu tượng khác nhau và nghiên cứu những tư tưởng triết học có liên quan. Ví dụ, tại tự viện Namgyal thì thời gian này kéo dài đến ba năm. Ở những giai đoạn đầu tiên, những vị Tăng phải ngồi ở phần ngoài của chiếc Man-da-la cơ bản chưa được phủ sơn, phải luôn hướng mặt vào trung tâm. Đối với những tranh cỡ lớn, khi những vị sư vẽ được một nửa, họ phải đứng trên sàn nhà và cúi người xuống để rắc màu. Theo truyền thống thì một tranh được phân chia thành bốn phần bằng nhau và mỗi vị sư chịu trách nhiệm một phần. Tại nơi những vị Tăng đứng để rắc màu, một người phụ việc sẽ nối bốn phần lại với nhau. Những người phụ việc này làm việc mang tính hợp tác sẽ giúp bốn vị sư rắc màu vào bốn phần trong khi bốn vị sư phác những chi tiết khác. Những vị sư sẽ nhớ lại tất cả những chi tiết của một bức giống như phần trong chương trình đào tạo tại tự viện của họ.

     Một điều rất quan trọng phải nhớ là một bức mạn đà la hoàn toàn dựa chính xác vào Kinh điển. Khi kết thúc mỗi phần công việc, chư Tăng hồi hướng bất cứ công đức tâm linh hoặc nghệ thuật được tích lũy được từ công việc này vì lợi ích của hết thảy hữu tình. Sự thực hành này được thực hiện trong tất cả những tác phẩm nghệ thuật tâm linh. Một lý do chính chư Tăng tập trung cực kỳ cao độ vào công việc bởi họ thực sự đang truyền đạt giáo lý của Đức Phật. mạn đà la chứa đựng những lời giáo huấn của Đức Phật để chứng đại giải thoát giác ngộ, động cơ thanh tịnh và sự hoàn hảo trong tác phẩm của họ tạo duyên cho những người chiêm ngưỡng được lợi ích cao nhất.

     Mỗi chi tiết trong bốn phần đều hướng mặt về trung tâm, vì thế mỗi chi tiết đó đều hướng mặt về nơi Bản tôn an trụ trong tranh. Sự phối cảnh của chư Tăng và những người chiêm ngưỡng đứng xung quanh thì những chi tiết ở phần gần nhất với người chiêm ngưỡng dường như bị đảo ngược, trong khi đó những chi tiết trong phần xa nhất thì đúng chiều. Nói chung, mỗi vị Tăng chịu trách nhiệm phần của mình trong khi sơn rắc các phần cung điện vuông. Khi sơn những đường tròn đồng tâm, thì họ phải lần lượt chuyển động xung quanh. Họ đợi cho toàn bộ giai đoạn hoàn thành trước khi cùng nhau di chuyển ra ngoài. Điều này đảm bảo cho sự cân bằng được duy trì và cả bốn phần của Man-dala đều được hoàn tất cùng một lúc. Việc chuẩn bị để kiến lập một mạn đà la là sự nỗ lực về nghệ thuật nhưng đồng thời nó cũng là một hành động đầy tôn kính. Trong sự tôn kính này, những tư tưởng và sắc tướng được kiến lập, trong đó những trực giác sâu sắc nhất sẽ được biểu đạt là nghệ thuật tâm linh.Việc kiến lập thường được thiền định là một chuỗi trải nghiệm không gian mà tinh túy của nó có trước sự tồn tại, điều này có nghĩa là tư tưởng có trước sắc tướng. Ở dạng phổ biến nhất chính là hàng loạt vòng tròn đồng tâm. Mỗi bức đều có một Bản tôn riêng an trụ trong cấu trúc hình vuông được đặt đồng tâm bên trong những vòng tròn này. Hình vuông hoàn hảo của mạn đà la chỉ ra rằng không gian tuyệt đối của trí tuệ vốn không si ám. Cấu trúc hình vuông này có bốn cổng được vẽ rất tỷ mỷ biểu trưng cho sự hội tụ của Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả).

     Mỗi chiếc cổng được trang hoàng bằng những chiếc chuông, tràng hoa và các chi tiết trang trí khác. Hình vuông này xác định kiến trúc của mđl được miêu tả là một cung điện hoặc một ngôi chùa có bốn mặt: Là một cung điện bởi vì nó là nơi an trụ của Bản tôn chính trong mạn-đà-la, còn là một ngôi chùa bởi chứa đựng tinh túy của Đức Phật, hàng loạt những đường tròn bao quanh cung điện trung tâm theo một cấu trúc mang tính biểu tượng mạnh mẽ. Bắt đầu với những vòng tròn bên ngoài, bạn sẽ nhận thấy một vành lửa, thường được mô tả là một hình trang trí có đường cuộn độc đáo. Vành lửa biểu trưng cho quá trình chuyển hóa mà những phàm tình chúng sinh phải trải qua trước khi nhập vào miền Tịnh Độ linh thiêng bên trong. Kế đến là một vòng Quyền Trượng Kim Cương, chỉ ra sự không thể phá hủy và kim cương giống như sự huy hoàng rực rỡ của các cảnh giới tâm linh.

     Trong đường tròn đồng tâm kế tiếp, đặc biệt là những đặc trưng của những Bản tôn Uy mãnh, bạn có thể nhìn thấy tám nghĩa địa được sắp xếp trên một băng rộng. Tám nghĩa địa này biểu trưng cho tám yếu tố của thức loài người trói buộc họ vào thế giới hiện tượng và vòng sinh tử. Sau cùng, tại trung tâm của tranh là tọa vị của Bản tôn, nhìn vào trung tâm Bản tôn thì sẽ biết được thuộc mạn đà la nào. Người ta cho rằng các bức tranh có được quyền lực này là do chính Bản tôn trong mỗi mạnđà la. Một cách chung nhất là Bản tôn trung tâm có thể là một trong ba loại dưới đây: Bản tôn Hiền hòa. Một Bản tôn Hiền hòa biểu trưng cho sự tiếp cận tâm linh và tồn tại đặc biệt riêng của mình. Ví dụ, một hình ảnh  Đức Phật Quan Thê Âm biểu trưng cho lòng từ là trọng tâm của trải nghiệm tâm linh; Đức Phật Trí Tuệ Văn Thù thì lấy trí tuệ làm trọng tâm và Đức Kim Cương Thủ lại nhấn mạnh tới lòng dũng cảm và trí lực để tìm cầu trí tuệ thiêng liêng.

      Những Bản Tôn Uy mãnh biểu trưng sự đấu tranh mạnh mẽ để vượt qua sự xa lánh ghét bỏ trong mỗi người. Bản Tôn là hiện thân của tất cả phiền não bên trong làm đen tối những tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta và ngăn cản chúng ta đạt đến mục đích của đạo Phật là sự toàn giác. Theo truyền thống thì những Bản tôn Uy mãnh được hiểu là những khía cạnh của nguyên lý Từ Bi, chỉ đáng sợ đối với những người thấy họ như những thế lực bên ngoài. Khi nhận ra được những khía cạnh của tự thân và được thuần dưỡng với sự thực hành tâm linh thì họ nhận ra pháp tướng bên ngoài của các vị hóa thần này rất thanh tịnh và từ bi.

7. Ý nghĩa biểu tượng trong tranh mandala

 

Ý nghĩa biểu tượng tranh Mandala

Ý nghĩa biểu tượng trong tranh mandala

Mỗi biểu tượng trong tranh Mandala đều có một ý nghĩa nhất định.

 

     Trong đạo Phật, Mạn đà la thể hiện những khía cạnh khác nhau của giáo dục và truyền thống Phật giáo. Đây là một phần làm cho việc tạo man-da-la trở thành một hành động thiêng liêng, vì khi họ làm việc, các nhà sư đang truyền dạy giáo lý của Đức Phật.

     Mạn-đà-la thường tượng trưng cho một cung điện được đặt ở vị trí trung tâm, có bốn cổng theo 4 hướng và nằm trong vài lớp vòng tròn tạo thành hàng rào bảo vệ xung quanh nó.

     Bên ngoài cung điện có nhiều vòng tròn đồng tâm. Vòng ngoài cùng thường được trang trí bằng cách làm cong cách điệu giống như một vòng lửa. Mỗi lớp vòng tròn tượng trưng cho chất lượng tâm linh, quá trình biến đổi phải trải qua các bước trước khi có thể tiến vào lãnh thổ thiêng liêng ở trung tâm.

     Vòng tròn tiếp theo bên trong là các hình tượng Phật giáo như sấm sét, kim cương, bánh xe (biểu tượng của Bát Chánh Đạo) thể hiện sự mạnh mẽ, trí tuệ và bất diệt. Tiếp theo là một vòng tròn gồm tám nghĩa địa, đại diện cho tám khía cạnh ràng buộc một người vào chu kỳ tái sinh. Cuối cùng, vòng trong cùng được từ cây sen, biểu hiện sự tái sinh tôn giáo.

     Cấu trúc hình vuông ở giữa là cung điện cho các vị Phật hoặc Bồ tát cư trú, một ngôi đền chứa sự tinh túy của Đức Phật. Ngôi đền vuông có bốn cổng tượng trưng cho một loạt các ý tưởng bao gồm:

Tứ vô lượng tâm: Từ-Bi-Hỷ-Xả

Bốn hướng: Nam, Bắc, Đông và Tây

     Trong cung điện vuông hoặc đền thờ là hình ảnh của các vị Phật, thường là năm vị Phật vĩ đại trong Phật giáo Kim Cương Thừa (Ngũ Trí Như Lai). Biểu tượng của các vị Phật này rất phong phú, và mỗi một vị Phật đại diện cho một hướng (trung tâm, nam, bắc, đông và tây), yếu tố vũ trụ (như hình thức và ý thức), nguyên tố vật chất (đất, không khí, nước và lửa) và một loại trí tuệ đặc biệt.

     Mỗi vị Phật tượng trưng cho một khả năng vượt qua các rào cản để hướng đến sự giác ngộ. Ở trung tâm của mạn đà la là hình ảnh của vị Phật chính, tượng trưng cho hạt giống hoặc trung tâm của vũ trụ.

     Trong một số hình tượng khác, Mạn-đà-la có thể đại diện cho một vị thần đặc biệt hoặc thậm chí là một nhóm các vị thần. Trong những trường hợp này, vị thần chính được đặt ở trung tâm của man-da-la, trong khi các vị thần khác được đặt xung quanh. Vị thần chính được coi là cốt lỗi và các vị thần thứ cấp được xem như là biểu hiện của sức mạnh của vị thần đó.

 

Biểu tượng màu sắc của Mandala:

 

màu sắc trong tranh mandala

màu sắc tranh mandala 2

Tranh mandala rất nhiều màu sắc.

     Nếu hình thể là cốt yếu của Man-da-la thì màu sắc cũng như vậy. Bốn phần của cung điện Mạn đà la được phân chia điển hình theo những hình tam giác cân của màu sắc, bao gồm bốn phần của năm màu: Màu trắng, vàng, đỏ, xanh lục, xanh sẫm. Mỗi màu này đều có liên quan tới một trong năm Đức Phật siêu việt, thêm nữa chúng cũng có liên quan tới năm ảo tưởng của bản chất con người. Những ảo tưởng này che chướng bản chất chân thật của chúng ta, nhưng thông qua việc thực hành tâm linh, chúng có thể chuyển hóa thành năm trí tuệ tương ứng với năm Đức Phật siêu việt, cụ thể là: Đức Phật Tỳ Lư Giá Na Vairocana sắc trắng chuyển hoá ảo tưởng của vô minh trở thành Pháp Giới Thể Tính trí. Đức Phật Bảo Sinh sắc vàng chuyển hoá ngã mạn chuyển thành Bình Đẳng Tính trí. Đức Phật A Di Đà Amitabha sắc đỏ chuyển hoá si mê của chấp thủ trở thành Diệu Quan Sát trí. Đức Phật Bất Không Thành Tựu Amoghasiddhi sắc xanh lục chuyển hoá si mê đố kỵ trở thành Thành Sở Tác trí. Đức Phật A Súc Bệ Aksobya sắc xanh sẫm chuyển hoá si mê của sân giận trở thành Đại Viên Cảnh trí.

     Mạn đà la là phẩm vật cúng dường thiêng liêng. Bên cạnh việc trang trí và làm cho những ngôi chùa, và nơi ở trở nên thiêng liêng, đời sống sinh hoạt của người trên dãy Himalaya, theo truyền thống tranh được cúng dường tới các bậc Thầy khi thỉnh cầu các bậc Thầy truyền trao giáo Pháp hay quán đỉnh. Họ dùng để biểu trưng cho toàn bộ vũ trụ, bày tỏ lòng tri ân cao nhất đối với giáo pháp tôn quý. Một lần trong khung cảnh hoang sơ của Ấn Độ, Đại Thành tựu giả Tilopa đã yêu cầu Naropa cúng dường mạn đà la. Lúc bấy giờ ở đó không có sẵn chất liệu để kiến lập một bức nên Naropa đã đi tiểu vào cát và tạo thành một mạn đà la bằng cát ướt để làm phẩm vật cúng dường lên bậc Thầy của mình. Trong một dịp khác, Đức Naropa đã dùng máu, đầu và các chi của mình để tạo một bức tranh cúng dường. Bậc Thầy của Ngài đã hoan hỷ đón nhận.

     Nếu hình thể là cốt yếu của mạn đà la thì màu sắc cũng như vậy. Bốn phần của cung điện mđl được phân chia điển hình theo những hình tam giác cân của màu sắc, bao gồm bốn phần của năm màu: Màu trắng, vàng, đỏ, xanh lục, xanh sẫm. Mỗi màu này đều có liên quan tới một trong năm đức Phật siêu việt, thêm nữa chúng cũng có liên quan tới năm ảo tưởng của bản chất con người. Những ảo tưởng này che chướng bản chất chân thật của chúng ta, nhưng thông qua việc thực hành tâm linh, chúng có thể chuyển hóa thành năm trí tuệ tương ứng với năm đức Phật siêu việt, cụ thể là:

- Màu trắng - Đức Phật Vairocana (Tỳ Lư Giá Na): Ảo tưởng của vô minh trở thành Pháp Giới Thể Tính Trí.

-  Màu vàng -  Đức Phật Ratnasambhava (Bảo Sinh Phật): Ảo tưởng của ngã mạn chuyển thành Bình Đẳng Tính Trí.

-  Màu đỏ - Đức Phật Amitabha (A Di Đà Phật): Si mê của chấp thủ trở thành Diệu Quan Sát Trí.

- Màu xanh lục - Đức Phật Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu Phật): Si mê đố kỵ trở thành Thành Sở Tác Trí.

- Màu xanh sẫm - Đức Phật Akshobhya (A Súc Bệ Phật): Si mê của sân giận trở thành Đại Viên Cảnh Trí.

      Mạn đà la là phẩm vật cúng dường thiêng liêng. Bên cạnh việc trang trí và làm cho những ngôi chùa và nơi ở trở nên thiêng liêng, theo truyền thống Kim Cương Thừa thì Man-da-la còn được dùng để cúng dường tới các bậc Thầy khi thỉnh cầu các bậc Thầy truyền trao giáo pháp hay quán đỉnh. Lúc này, tranh được dùng để biểu trưng cho toàn bộ vũ trụ, là phương tiện bày tỏ lòng tri ân cao nhất đối với giáo pháp tôn quý.

 

     Cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo Phật Linh chân thành cảm ơn Quý Đạo hữu ghé thăm website. Chúc đạo hữu luôn an lạc, tu tập tinh tấn.