Tất cả Tranh Thangka - Mandala

Hiển thị từ 1 đến 15 trong 136 kết quả


 

TRANH THANGKA TÂY TẠNG

1. Tranh Thangka là gì?

Tranh thangka là gì?

Tranh thangka lớn nhất 

     Thangka chỉ có duy nhất trong Phật giáo Kim Cương thừa. Thangka (còn được viết là Tangka hay Thanka) hay còn gọi là tranh cuộn, là loại tranh vẽ (hay thêu) treo ở các tự viện hay nơi thờ Phật tại gia đình. Chữ Thang trong Thangka bắt nguồn từ Thang yig, tiếng Tây Tạng có nghĩa là ‘ghi lại’. Tranh Thangka là một bức họa hay một bức tranh thêu được làm từ vải lanh, vải bông hay lụa có thể tiện mang đi lại được; những bức họa này, thường được treo trong tự viện hay bàn thờ của một gia đình và được các vị lama mang theo trong các lễ hội. Các bức Thangka có thể họa chân dung đức Phật hay các Bậc Thượng sư, hoặc những sự kiện trong cuộc đời của các Ngài. Thangka luôn có hình chữ nhật; những Thangka hình vuông thường vẽ Mandala. Các bức Thangka được phân loại dựa vào màu nền và có vai trò như là những vật phụ trợ và nhấn mạnh đến thiền định.

2. Lịch sử Tranh Thangka.

Lịch sử tranh Thangka

Lịch sử tranh thangka

     Tương truyền rằng bức tranh Thangka đầu tiên vẽ Nữ thần hộ Pháp Bạch Lạp Mỗ, chính là do người dân tộc Thổ Phiên dùng cái mũi đẫm máu của mình để vẽ nên.

     Việc vẽ tranh thangka bắt đầu ở Nepal vào thế kỷ 11, sau đó được phát triển mạnh ở các vùng đất thuộc Bắc Himalaya. Về niên đại lịch sử, thông qua Nepal, Phật giáo Đại thừa đã truyền sang Tây Tạng trong triều đại Angshuvarma hồi thế kỷ 7. Ảnh hưởng của nghệ thuật Nepal lan rộng đến Tây Tạng và thậm chí đến Trung Hoa vào thế kỷ 13. Các nghệ nhân Nepal còn được mời đến triều đình của hoàng đế Trung Hoa theo yêu cầu chính thức.

     Cũng có nơi nói rằng, tranh Thangka có lịch sử 1.400 năm, từ khi các tu sĩ Tây Tạng đi thuyết pháp đã treo những bức tranh Thangka bằng vải. Hầu hết tranh Thangka đều có dạng hình chữ nhật. Bức bé nhất thì có kích thước bằng một bàn tay, có thể vẽ trên giấy, hoặc trên da cừu; bức lớn nhất có thể che khuất một sườn núi.

     Việc ra đời của tranh thangka Tây Tạng có thể quy công cho các nghệ nhân Nepal, những người chuyên tạo tác một khối lượng lớn các tác phẩm kim loại, tranh tường cũng như các bản kinh có hình vẽ minh họa ở Tây Tạng. Nhận thấy nhu cầu to lớn về tượng thờ ở Tây Tạng, những nghệ nhân này đã theo chân các nhà sư và đội ngũ thương nhân. Họ mang theo ko chỉ các tác phẩm điêu khắc kim loại mà cả những bản kinh Phật chép tay. Để đáp ứng nhu cầu ngày một cao, các nghệ nhân Nepal đã tìm tòi và khởi xướng một loại tranh tôn giáo mới trên vải, có thể cuộn lại dễ dàng để mang đi. Loại tranh này trở nên phổ biến ở cả Nepal lẫn Tây Tạng, và từ đó một trường phái tranh mới – tranh Thangka – đã ra đời và phát triển thịnh đạt vào hồi thế kỷ 9 hay thế kỷ 10, và vẫn được ưa chuộng cho đến ngày nay. Một trong những tiêu bản tranh Thangka Nepal có niên đại thế kỷ 13-14 vẽ Đức Phật A Di Đà với chư Bồ Tát bao quanh. Một bức tranh Thangka khác có đến ba niên đại (muộn nhất là năm 1369), được ghi chép trong các văn bản chính thức là bức Thangka cổ nhất mà chúng ta đã được biết. Bức “Mandala Vishnu” có niên đại năm 1420 là ví dụ khác về tranh vẽ của thời kỳ này. Các tranh Thangka ban đầu của Nepal rất đơn giản về hình họa lẫn bố cục vị thần chính – một hình vẽ lớn chiếm vị trí trung tâm – và các vị thần linh thứ yếu, nhỏ bé hơn, bao quanh.

     Ngoài Nepal, tài liệu lịch sử có ghi rằng hội họa Trung Quốc cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến hội họa Tây Tạng nói chung đầu thế kỷ 14 và đạt đỉnh cao vào thế kỷ 18. Theo Giuseppe Tucci (1894-1984), một học giả văn hóa phương đông người Ý, thì vào khoảng đời nhà Thanh “một nền nghệ thuật mới đã phát triển ở Tây Tạng, trong đó có những ảnh hưởng ít nhiều cái vốn quý của nghệ thuật trang trí thanh nhã.”

     Vẽ tranh Thangka là một trong các bộ môn chính của nghệ thuật Tây Tạng. Trong thời trị vì của Pháp Vương Trisong Detsen (742-797), các bậc thầy vẽ tranh Thangka Tây Tạng đã nâng cao nghệ thuật này trong việc tìm tòi và học hỏi từ truyền thống của các xứ sở khác. Nét vẽ, quy tắc trắc lượng nhân thể, trang phục, các phẩm vật gia trì và trang sức hoàn toàn dựa theo phong cách Ấn Độ, việc vẽ hình tướng được dựa theo phong cách Nepal và hậu cảnh của tranh là theo phong cách Trung Hoa. Nhờ sự kết hợp đa chiều đó, Thangka trở thành nghệ thuật phong phú và đầy độc đáo.

3. Sự đa dạng phong phú của tranh Thangka

ĐA dạng tranh thangka

Tranh thangka rất đa dạng

    Hầu hết tranh Thangka đều có dạng hình chữ nhật. Bức bé nhất thì có kích thước bằng một bàn tay, có thể vẽ trên giấy, hoặc trên da cừu; bức lớn nhất có thể che khuất một sườn núi.

     Tranh Thangka được thực hiện trên vải hoặc lụa, đôi khi bức tranh là sự kết hợp các mảnh lụa khâu thành tranh, một vài tác phẩm được thực hiện bằng thêu.

  • Thangka cũng có thể phân loại theo các tiêu chí đặc thù như:
  • Tranh sơn màu tson-tang. Đây là loại phổ biến nhất.
  • Tranh khâu: Vật liệu là những mảnh lụa gotang được kết hợp lại tạo nên sắc màu phối hợp hài hòa.
  • Tranh nagtang được vẽ nét bằng vàng kim trên nền màu đen
  • Tranh in: Họa sĩ dùng những bản in khắc trên gỗ sau đó thể hiện bằng đường nét trên giấy hoặc trên vải.
  • Tranh thêu, gọi là tshim tang;
  • Tranh vẽ trên nền màu vàng kim – màu của thế giới Phật quốc, được dùng một cách cẩn trọng để vẽ chư thần và chư Phật đạt trình độ giác ngộ viên mãn;
  • Tranh nền đỏ: vẽ nét tỉ mỉ bằng màu vàng kim, nhưng thường là dùng nét vàng kim trên màu đỏ son – gọi là martang.

     Thông thường, tranh Thangka thường có kiểu dáng hình chữ nhật. Loại khổ nhỏ có chiều dài hay chiều rộng khoảng 40 cm đến hơn 100 cm, nhưng cũng có bức có khung rất lớn chiều rộng lớn hơn chiều cao, có thể rộng đến trên dưới 15 mét và cao hơn 7 m, những bức tranh loại này thường được trưng bày ở lễ hội lớn, được khâu kết bằng nhiều mảnh vải/ lụa lại với nhau và vẽ hình tượng trên đó. Thangka cũng hay được treo trên vách tu viện trong những dịp lễ đặc biệt.

     Đối với loại tranh trên vải hoặc thêu, Thangka được tạo tác bằng nhiều loại vải sợi khác nhau. Phổ biến nhất là vải bông được dệt với khổ rộng từ 40-58 cm. Loại tranh Thangka rộng hơn 45 cm thường người ta phải nối vải.

     Cầu kì hơn là tranh được vẽ trên nền vải bông hay lụa. Khâu pha màu nước rất công phu, màu được chế tạo từ khoáng và các chất hữu cơ, trộn các loại màu thảo mộc với keo – trong thuật ngữ phương Tây gọi là kỹ thuật vẽ màu keo.

     Toàn bộ công đoạn vẽ tranh yêu cầu khả năng thành thạo và sự thấu triệt các nguyên tắc trắc lượng đồ tượng, tức các quy pháp tạo hình và tỉ lệ Phật tượng.

     Bố cục của tranh Thangka, thành tố chủ đạo của nghệ thuật Phật giáo, là có tính trang trí hình học. Tay, chân, mắt, mũi, tai và các bửu bối/ trì vật mang tính nghi thức đa đạng đều được bố trí trên một mạng kẻ ô gồm những góc và những đường thẳng giao nhau.

4. Ý nghĩa của Tranh Thangka

Ý nghĩa tranh Thangka

Ý nghĩa tranh Thangka

      Tranh Thangka được dùng như một công cụ thuyết pháp, thể hiện cuộc đời của Đức Phật, các vị Lạt Ma danh tiếng cùng chư Bồ Tát, thánh thần. Loại Thangka màu thể hiện cả Thần và nữ thần Hindu cùng các đề tài Phật giáo: Đức Phật tọa thiền, cuộc đời Đức Phật, Pháp luân, Mạn đà la, Dược Sư Phật… Còn có một số bức tranh phản ánh cuộc sống, tập tục trong dân gian. Người ta nói rằng, quá trình vẽ tranh Thangka cũng tựa như một hành trình quy y theo Phật, tích lũy thiện nghiệp và công đức, là quá trình tẩy tịnh tâm linh, cũng là quá trình tu dưỡng và tôi rèn tâm tính của bản thân.

     Các bức tranh Thangka vẽ những thần linh được coi là Thần bảo hộ cho chúng sinh. Đối với Phật tử khi chiêm ngưỡng những bức Thangka treo trên tường, họ không chỉ cảm nhận vẻ đẹp trang nghiêm mà còn tin rằng sẽ nhận được những điều mầu nhiệm phát tỏa ra từ đó.

5. Tranh Thangka - nghệ thuật của thái độ sống

Tranh thangka là nghệ thuật thái độ sống

Tranh thangka là nghệ thuật thái độ sống

     Thangka là một dòng tranh dân gian có nguồn gốc Nepal, theo chân công chúa Bhricuti tới Tây Tạng sau cuộc hôn nhân chính trị với Tạng Vương Sron Tsan Gampo (sau đó, Tạng vương lại cưới tiếp công chúa Văn Thành, nhà Đường). Trong đó nhánh tranh thờ Phật Giáo là mảng nổi bật nhất với những bức tranh chân dung, tranh kể chuyện như tích La Hán qua sông, Avalokitesvara với một biển lòng yêu thương, hay chân dung guru Dragbo nhìn khá dữ tợn với ba mắt, răng nhọn dài đe dọa… Thangka có thể là tranh thêu kỳ công, chỉ vàng đính ngọc, đá turquoise cực kỳ tinh xảo, hoặc vẽ trên vải trên giấy bằng màu tự nhiên… Người ta cũng tìm thấy những bức tranh Thangka vẽ thẳng lên núi đá.

     Người Tạng rất trân trọng Thangka, tranh thường được một tấm lụa phủ che chở, có giá đỡ cầu kỳ ở trên như một phần không thể thiếu của bức tranh, đôi khi tranh cũng được cuộn lại bỏ vào ống và khoác trên vai các nhà sư trong suốt hành trình.

      Trong lịch sử, Tây Tạng từng có có hai ngôi trường dạy vẽ Thangka chuyên nghiệp, người họa sĩ trước khi cầm bút tỉ mẩn đi từng nét nhỏ cần phải thông tuệ tiếng Tạng, am hiểu các tích truyện, phải cảm được cái hồn của nhân vật trước khi đặt bút vẽ. Cả quá trình ấy có thể mất tới 7, 8 năm. Lại nói, một người họa sĩ Thangka có thể mất ròng rã nhiều tháng mới hoàn tất đến từng chi tiết của tranh, và mặc dù lối vẽ “công nghiệp” chia mỗi người một công đoạn chắc chắn sẽ giúp rút ngắn thời gian, lối vẽ ấy không được hưởng ứng tại đây để giữ cho cảm xúc và đường nét tranh luôn nhất quán, và quan trọng hơn, bởi vì những họa sĩ người Tạng thấy việc tiết kiệm thời gian là không cần thiết và cách thức ấy là thiếu tôn trọng Thangka.

     Người Tây Tạng ít bon chen, không vội vã, phần đông thường điềm tĩnh và khá cởi mở, thái độ sống ấy còn rất đẹp bởi sự san sẻ giữa người với người. Hình ảnh người ăn xin Tạng vóc người cao lớn, khoác tay nải, một tay đều đặn quay chiếc chuyển pháp luân một tay chống gậy miệng đọc to những lời cầu nguyện chúc phúc. Đi tới đâu người cho sẽ tự tiến tới “biếu” tiền (thường chỉ vài xu, thậm chí còn chưa được 1 tệ) bằng hai tay đầy chân thành, chia sẻ.  Hình ảnh người ăn xin ở nhiều nơi, nhưng người ăn xin không… xin và người cho không có thái độ bố thí là điều hơi hiếm.

6. Mẫu thiết kế chuẩn của Tranh Thangka

Mẫu thiết kế chuẩn của Tranh Thangka

Mẫu thiết kế chuẩn của Tranh Thangka

 

1) Đây được coi là cánh cửa, phần gốc rễ hay đôi khi là nguồn gốc. Hình chữ nhật tượng trưng cho biển tính và con đường đạt đến giác ngộ.

2) Phần khung vải phía trên và phía dưới phần “cửa” tượng trưng cho thập địa của sự thành tựu nội chứng thanh tịnh và đại giác ngộ. Ngoài ra, còn tượng trưng cho con đường dẫn đến giác ngộ và yếu tố địa đại.

3) và 4) Phần khung vải bên trái và bên phải tượng trưng cho Phật giáo Kim cương thừa cũng như trình độ chứng đạt trí tuệ và tâm linh cao hơn của một hành giả (3) hay một bậc Thượng sư (4).

5) Phần khung vải nằm ngang phía trên cùng tượng trưng cho cảnh giới chư thiên, nơi chúng sinh khi hết phúc báo sẽ bị rớt xuống những cõi thấp hơn.

7) Phủ ngoài bức thangka là một lớp vải để bảo vệ bức thangka khỏi những cái nhìn của những người ngoại đạo và tránh môi trường ô nhiễm như khói bụi. Thông thường lớp vải này được cuộn lên tượng trưng cho lọng báu che chở cho chúng sinh khỏi đau khổ và phiền não.

8) Hai dải lụa tượng trưng cho tràng phan chiến thắng, thường được làm nặng thêm bằng cát (7) để tránh cho bức thangka khỏi xê dịch và do đó luôn giữ bức thangka được phẳng.

9) Tay cầm – thường làm bằng vàng, bạc hay ngà voi – là những đồ trang trí. Chúng được nối bằng một thanh ngang để giữ bức thangka không bị nhàu nát.

7. Bức tranh Thangka nổi tiếng.

Bức tranh Thangka nổi tiếng

Bức tranh Thangka nổi tiếng

     Bức tranh thangka này thu hút mọi con mắt trần tục lẫn… nghệ sĩ vì quá hiện đại: Phật ngồi chính giữa (như rất nhiều bức khác), trong lòng là một cô gái ở truồng vòng tay ôm cổ, đang hôn Phật say sưa. Cô gái được vẽ màu trắng nổi bật trên nền da xanh của Phật. Bố cục khá thoáng tay so với các tranh khác, hình khối khái quát, mạnh mẽ và đầy cảm hứng.

     Tư thế “Cha-Mẹ” chính là sự hợp nhất của trí tuệ, từ bi và năng lượng để đi đến giác ngộ. Hình tượng đầy sắc dục ẩn dụ này biểu thị giai đoạn cao nhất của thiền định, lúc không còn phân cực, hay phân biệt và sự thật không thể chia cắt, kiên cố như kim cương. Phật Giáo Mật Tông đã dùng hình tượng Nam và Nữ này cho khái niệm song sinh của từ bi và trí tuệ. Vị Phật nam đại diện cho từ bi và người nữ cho trí tuệ. Sự kết hợp của từ bi và trí tuệ tượng trưng cho trạng thái hợp nhất của Bồ đề tâm, hoặc tâm giác ngộ. Việc này được thể hiện bằng mắt bằng cách cho người ta thấy hai vị thần hay Phật hợp nhất qua sự kết hợp tình dục.

     Cơ thể của Đức Phật Phổ Hiền mô tả màu xanh đậm, màu này tượng trưng cho sự rộng lớn của không gian tâm trí. Phổ Hiền được mô tả như một hình thức duy nhất, và trong sự hiệp thông với vợ. Màu trắng của nó tượng trưng cho sự thuần khiết ban đầu của phép đo chân không của tâm. Sự hiệp thông của họ là sự thống nhất của tất cả trong bất nhị, nó cũng là một biểu tượng của sự hiệp nhất bất khả phân ly của đại lạc và tánh Không. Không giống như Kim Cương Trì, như nhân cách Pháp Thân, Phổ Hiền và vợ của ông không được trang trí với các đồ trang trí, và trần trụi. Nó tượng trưng cho bản chất tự do ban đầu của thực tế từ bất kỳ "trang phục."

     Chỉ có người trần dung tục không hiểu biết mới cho là phỉ báng và khiếm nhã. Đây là tranh đức Phổ hiền (Samatabhadra) với người phối ngẫu (Samantabhadri), biểu thị sự kết hợp trí tuệ (người nam) và tâm đại bi (người nữ) trong Phật giáo Mật tông hay còn gọi là Kim cang thừa của Tây Tạng.

8. Họa sĩ Tranh Thangka chính là quá trình tu luyện Phật Pháp

Họa sĩ Tranh Thangka chính là quá trình tu luyện Phật Pháp

Họa sĩ Tranh Thangka chính là quá trình tu luyện Phật Pháp

 

     Một họa sĩ vẽ tranh Thangka đòi hỏi kĩ năng sắp xếp bố cục, kĩ thuật pha trộn màu và phối màu, do vậy quá trình này thực sự rất khoa học, nhưng thường đòi hỏi sự hiểu biết thâm thúy về biểu trưng của hình hoạ trong thực hiện, để nắm bắt được cái cốt lõi, cái tinh thần.

     Mặc khác tâm thái người họa sĩ khi thực hiện vẽ tranh Thangka được thể hiện qua từng chi tiết nhỏ, đòi hỏi sự tập trung tư tưởng và năng lượng trí não, đường nét sắc xảo, bức họa không chỉ là đẹp mà họa Phật còn là bức vẽ thể hiện tầng thứ tư tưởng.

     Thangka thường tuân theo những biểu tượng đặc trưng, sự ám chỉ và ẩn ý bên trong. Nên người họa sĩ thường là người có trình độ hiểu biết rất sâu về kinh Phật, nắm bắt những quy tắc và biểu tượng hay ẩn ý tôn giáo, từ đó mà mô phỏng và sử dụng những biểu tượng phù hợp để tạo nên một thông điệp hoàn thiện với ý tứ ẩn sâu bên trong.

     Sự thâm sâu trong một bức họa Thangka chính là chiều sâu về nhận thức kinh Phật của người họa sĩ. Chính vì vậy người nghệ sĩ phải rèn luyện tay nghề và phải có đầy đủ hiểu biết tôn giáo, kiến thức và bối cảnh để sáng tạo nên một bức Thangka chính xác và đạt trình độ mĩ thuật tương ứng với cảnh giới tư tưởng của mình.

     Trong nghệ thuật Tây Tạng, người ta coi họa là một loại hình hóa thân cao siêu, cả hình thể và phẩm chất hay quyền uy của từng vị Phật phải được bộc lộ hết thảy, người ta chú ý tới chuẩn tắc riêng trong kinh Phật nói về các bộ phận, hình dáng, màu sắc, vị thế của bàn tay (thủ ẩn) cùng các trì vật để phân biệt chính xác đâu là Phật đâu là chư thần, đâu là đại Phật, đâu là Bồ Tát.

     Chính vì lẽ đó mà người ta nói rằng, họa sĩ họa Phật chính là bước đầu của quá trình tu luyện quy y Phật Pháp, và đây là một con đường học hỏi nghiêm túc và công phu.

     Con đường trở thành một họa sĩ Thangka nhất định phải là người tu tâm dưỡng thân trước rồi mới trở thành một chuyên gia họa Phật Để trở thành một họa sĩ có thể họa Phật, người ta mất 10 năm để học hỏi. Trước khi học vẽ người ta phải tu tâm dưỡng thân. Trong suốt 3 năm đầu các học viên học vẽ phác họa chư thần, Phật, Bồ tát được nêu ra trong kinh Phật.

     Hai năm sau, họ được chỉ dạy cách thức giã nghiền và sử dụng các màu khoáng chất, vàng ròng để vẽ. Vào năm thứ 6, các học viên được tiếp cận với một kho tàng kinh tạng, nghiên cứu tường tận đến chi tiết kinh Phật và sách tôn giáo để chọn chủ đề cho họa phẩm của mình. Sau khi thông thuộc kinh Phật, nắm được hết thảy mọi giới luật, lúc này học viên cũng như một người quy y Phật Pháp, tâm tính và cảnh giới tinh thần đã được bước đầu xác lập và tôi tạo.

     Vào năm học thứ 10 được một bậc thầy giám sát thường xuyên. Sau khóa tu học, các học viên cần từ năm đến mười năm mới trở thành chuyên gia vẽ Thangka.

      Người ta nói rằng để vẽ được những tranh Thangka, người học phải là người tu trước sau đó mới được học vẽ. Đây chính là một quy định bắt buộc đòi hỏi con người muốn vẽ được Phật thì thân tâm phải tịnh trí tuệ mới được đả khai, cảnh giới bức họa mới mang theo năng lượng và uy lực của Phật pháp.

      Có thể thấy rằng, Thangka là một loại tranh vô cùng đặc biệt, người ta kính trọng nó như thái độ cung kính với chư Thần Phật. Một dòng tranh sống cùng với niềm tin rằng thần linh chính là những vị Thần bảo hộ cho chúng sinh, xua đuổi ma tà và gìn giữ sự thanh cao của giá trị phẩm hạnh con người.

     Nếu như người ta biết đến Tây Tạng là vùng đất yên bình không ben chen vội vã, không ồn ào thị phi, con người nơi đây đầy thiện niệm và bao dung. Có lẽ gốc rễ của đánh giá này chính là thái độ và niềm tin bất diệt vào sự tồn tại của đấng linh thiêng, tín tâm nơi Phật Pháp, sự tôn kính và thái độ đối với chư Thần Phật là sự khởi đầu cho những giá trị trường tồn của vùng đất và con người Tây Tạng.

     9. Mua tranh Thangka đẹp ở đâu?

Do nhu cầu tranh Thangka ngày một tăng cao nên có rất nhiều địa chỉ bán tranh thangka. Tuy nhiên để tìm được tranh đúng chất lượng và giá thành hợp lý thì không dễ chút nào. Cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo Phật Linh là nơi quý khách có thể tham khảo.
 

tranh thangka tại cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo Phật Linh
 

     Quý khách có nhu cầu mua tranh Thangka vui lòng liên hệ trực tiếp với Phật Linh. Tại đây quý khách hoàn toàn yên tâm về chất lượng của tranh.

Kính chúc quý đạo hữu thân tâm thường lạc, tu tập tinh tấn. 

 

Liên hệ